Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Những điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP trong công tác văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương

( Cập nhật lúc: 05/02/2021  )

Để khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời đảm bảo phù hợp với quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngày 31/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Việc nắm bắt những điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP để áp dụng vào công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương là yêu cầu thiết yếu đối với công chức làm công tác văn bản quy phạm pháp luật. Dưới đây là những điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP trong công tác văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương.

Thứ nhất, bổ sung làm rõ các trường hợp nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh không phải văn bản quy phạm pháp luật (khoản 1 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Ngoài các trường hợp cụ thể đã được liệt kê từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều 3 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP bổ sung làm rõ trường hợp “Nghị quyết về chương trình, đề án, dự án, kế hoạch” cũng không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, bổ sung yêu cầu phân tích, dự báo tác động của chính sách đối với tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật (điểm b khoản 3 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Ngoài việc phân tích, dự báo khả năng thi hành và tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, khả năng thi hành và tuân thủ của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế; theo quy định của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, cơ quan lập đề nghị còn phải phân tích, dự báo tác động chính sách đối với tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Thứ ba, bổ sung trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật (khoản 4 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Trên cơ sở quy định về hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và quy định về quyền, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động phản biện xã hội tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP bổ sung vào quy định tại Điều 25 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật trong việc trả lời bằng văn bản đối với ý kiến phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong trường hợp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ tư, bổ sung quy định về trách nhiệm xây dựng, theo dõi, đôn đốc việc ban hành văn bản quy định chi tiết nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (khoản 7 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Để thuận lợi cho việc theo dõi, xác định những nội dung giao cho chính quyền địa phương quy định chi tiết tại nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; trên cơ sở đó, kịp thời ban hành văn bản quy định chi tiết đảm bảo yêu cầu về thời điểm có hiệu lực của văn bản, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP đã bổ sung Điều 29a vào sau Điều 29 quy định về trách nhiệm xây dựng, theo dõi, đôn đốc việc ban hành văn bản quy định chi tiết trong trường hợp này. Theo đó, bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo nghị định của Chính phủ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tại Điều 20 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành thông tư quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung giao Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chi tiết thì có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày văn bản đó được ký ban hành. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bảo đảm chất lượng, tiến độ soạn thảo, thời hạn ban hành văn bản quy định chi tiết; thông báo bằng văn bản cho bộ, cơ quan ngang bộ những vấn đề phát sinh trong quá trình soạn thảo văn bản quy định chi tiết để xử lý theo thẩm quyền hoặc tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Thứ năm, sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý văn bản (điểm b khoản 17 và khoản 29 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng được lý xử lý là văn bản trái pháp luật được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Theo đó, đối với chính quyền địa phương, văn bản trái pháp luật được xử lý bao gồm văn bản ban hành không đúng thẩm quyền; văn bản có nội dung trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn; văn bản quy định thời điểm có hiệu lực trái với quy định tại khoản 1 Điều 151 của Luật; văn bản vi phạm quy định của pháp luật về đánh giá tác động của chính sách, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra dự thảo. Cùng với việc sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng được xử lý là văn bản trái pháp luật, theo quy định tại khoản 29 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản được ban hành trái pháp luật theo quy định tại điểm b khoản 17 Điều 1 Nghị định này thì cơ quan, người có thẩm quyền có trách nhiệm bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung trình tự rà soát theo căn cứ là văn bản (khoản 32 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự rà soát theo căn cứ là văn bản theo hướng bỏ quy định về việc xác định các trường hợp hết hiệu lực của văn bản tại điểm a khoản 4 Điều 149 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

Thứ bảy, sửa đổi, bổ sung quy định về việc xây dựng báo cáo kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản, rà soát văn bản theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn (khoản 36 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Theo đó, căn cứ vào mục đích, yêu cầu của hoạt động tổng rà soát văn bản, rà soát văn bản theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định việc xây dựng các danh mục văn bản kèm theo báo cáo, bao gồm: Danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ; Danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực một phần; Danh mục văn bản còn hiệu lực, gồm cả văn bản hết hiệu lực một phần; Danh mục văn bản cần đình chỉ thi hành, ngưng hiệu lực, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới. Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành danh mục văn bản khác thì có thể được lập theo các mẫu danh mục văn bản ban hành kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

Thứ tám, hoàn thiện quy định về trình tự hệ thống hóa văn bản (khoản 39 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Theo đó, khi thực hiện hệ thống hóa văn bản, cơ quan thực hiện hệ thống hóa văn bản có trách nhiệm tập hợp các văn bản thuộc đối tượng hệ thống hóa, tập hợp kết quả rà soát văn bản thuộc đổi tượng hệ thống hóa, kiểm tra lại kết quả rà soát và rà soát bổ sung các văn bản thuộc đối tượng hệ thống hóa, lập danh mục văn bản theo quy định, sắp xếp các văn bản còn hiệu lực thành Tập hệ thống hóa văn bản, công bố kết quả hệ thống hóa văn bản. Như vậy, để thuận tiện hơn trong việc thực hiện hệ thống hóa văn bản, theo quy định của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP việc xác định văn bản thuộc đối tượng hệ thống hóa được thực hiện ngay từ bước đầu. Bên cạnh đó, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi quy định về hình thức văn bản công bố kết quả hệ thống hóa (là văn bản hành chính thay vì quy định bắt buộc là quyết định hành chính như tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP); sửa đổi quy định về thời hạn công bố kết quả hệ thống hóa (chậm nhất là ngày 01 tháng 3 của năm liền sau năm cuối cùng của kỳ hệ thống hóa đối với kết quả hệ thống hóa văn bản của chính quyền địa phương các cấp); sửa đổi quy định về việc niêm yết Danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực ở cấp huyện và cấp xã (niêm yết tại các địa điểm quy định tại Điều 98 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP).

Thứ chín, bổ sung quy định về việc sử dụng chuyên gia trong công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản (điểm a khoản 41 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Để đảm bảo tốt nhất chất lượng, sự phù hợp của kết quả kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản, đặc biệt là đối với văn bản có nội dung kỹ thuật chuyên ngành, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP bổ sung quy định cho phép sử dụng chuyên gia trong quá trình kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản.

Bên cạnh những điểm mới trên, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể: bổ sung hướng dẫn về viết hoa trong văn bản quy phạm pháp luật tại Phụ lục VI; sửa đổi quy định về kỹ thuật viện dẫn văn bản; sửa đổi mẫu Quy chế ban hành kèm theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp, mẫu nghị quyết, quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều; bổ sung mẫu nghị quyết, quyết định bãi bỏ một hoặc một số văn bản; bổ sung mẫu đề cương chi tiết dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh./.

Tác giả:  Thanh Hằng
Nguồn: 
Sign In
Chung nhan Tin Nhiem Mang