Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Trợ giúp viên pháp lý

( Cập nhật lúc: 22/12/2020  )

Tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý

Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý:

1. Có phẩm chất đạo đức tốt;

2. Có trình độ cử nhân luật trở lên;

3. Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý;

4. Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý;

5. Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật.

Quyền và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý

1. Thực hiện trợ giúp pháp lý;

2. Được bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý độc lập, không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật;

3. Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và pháp luật về tố tụng;

4. Được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

5. Bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;

6. Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý;

7.  Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý;

8.  Bồi thường hoặc hoàn trả một khoản tiền cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

9. Tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

10. Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công;

11. Được hưởng chế độ, chính sách theo quy định

Tư vấn pháp luật

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn có nhận được đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý của ông Thào A Pu có nội dung như sau:

Ông và vợ cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay ông muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác nhưng vợ ông không có mặt ở nhà đã được hai năm và ông cũng không biết hiện giờ vợ ông đang ở đâu. Nay ông đề nghị Trung tâm tư vấn: Ông phải làm những thủ tục như thế nào để có thể chuyển nhượng được quyền sử dụng đất?

Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng các quy định pháp luật có liên quan đối chiếu với nội dung đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý của ông, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 213 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về sở hữu chung của vợ chồng như sau:

“1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này”

Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tuyên bố mất tích“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng".

Về tài sản của người bị tuyên bố mất tích là nhà ở sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “ Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản 1 Điều 65 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này”.

Theo như thông tin ông cung cấp thì hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên hai vợ chồng ông nên đây được coi là tài sản chung của hai vợ chồng. Người vợ của ông cũng có quyền và lợi ích hợp pháp đối với phần tài sản mà mình đang đứng tên. Vì vậy khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác, phải được sự đồng ý của vợ ông. Do vợ ông đã đi khỏi nhà 2 năm và ông không biết vợ ông hiện nay đang ở đâu, nên ông có quyền yêu cầu Tòa ántuyên bố vợ ông mất tích. Trong thời gian này ông phải có nghĩa vụ bảo quản tài sản của người bị tuyên bố là mất tích. Sau 3 năm kể từ ngày có quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án mà vợ ông không trở về và không có thông tin xác thực là còn sống thì tòa sẽ tuyên bố vợ ông đã chết. Phần di sản của vợ ông để lại được phân chia theo quy định của pháp luât. Do đó, về nguyên tắc mảnh đất sẽ được chia đôi, phần sở hữu của vợ ông sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừ kế thứ nhất. Ông và những người thuộc hàng thừ kế thứ nhấtsẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau. Vì vậy khi thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đât ông phải được sự đồng ý của những người thừa kế còn lại.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn tư vấn để ông được biết và tham khảo./.

Tác giả:  Trung tâm TGPLNN
Nguồn: 
Sign In
Chung nhan Tin Nhiem Mang