Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật

( Cập nhật lúc: 22/12/2020  )

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.

Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật

1. Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:

a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;

b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;

c) Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội;

d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật.

Người khuyết tật được trợ giúp pháp lý bao gồm:

1. Người khuyết tật có khó khăn về tài chính là người khuyết tật thuộc hộ cận nghèo hoặc người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật.

2. Người khuyết tật thuộc các diện người được trợ giúp pháp lý khác như: Người có công với cách mạng; Người thuộc hộ nghèo; Trẻ em; Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi...

Hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý đối với người khuyết tật

1. Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý.

2. Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.

3. Giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.

Giấy tờ chứng minh là người khuyết tật có khó khăn về tài chính gồm một trong các loại giấy tờ sau:

a) Giấy chứng nhận hộ cận nghèo kèm theo Giấy chứng nhận khuyết tật do cơ quan có thẩm quyền cấp;

b) Quyết định hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; Quyết định tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại nhà xã hội, cơ sở bảo trợ xã hội;

Tư vấn pháp luật

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, nhận được đơn của bà Nông Thị Bích nội dung đơn yêu cầu như sau:

Con gái của bà lấy chồng đã được hơn 10 năm. Năm 2015 con gái bà bị tai nạn giao thông, tổn thương sọ não và đến năm 2017 thì bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Trong hai năm trở lại đây, con rể không quan tâm chăm sóc cho con gái bà mà còn sống chung với một người phụ nữ khác và có con riêng với người đó. Nay bà đề nghị Trung tâm tư vân: bà là Mẹ đẻ muốn xin thay đổi người giám hộ đương nhiên cho con rể để chăm con gái của mình có được không? Trình tự, thủ tục như thế nào?

Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014 đối chiếu với yêu cầu trợ giúp pháp lý của bà Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn có ý kiến tư vấn cho bà như sau:

Theo quy định tại Điều 53 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự như sau: “Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

1. Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ;

2. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ;

3. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ”

Vợ chồng con gái bà là vợ chồng hợp pháp do đó trường hợp người vợ bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì theo quy định của pháp luật thì chồng sẽ là người giám hộ đương nhiên của vợ. Đồng thời, theo khoản 1 Điều 57 Bộ luật dân sự 2015, người giám hộ có những nghĩa vụ như sau:

“a) Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;

 b) Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;

c) Quản lý tài sản của người được giám hộ;

d) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”

Theo quy định trên, thì con rể của bà đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ khi không những không quan tâm, chăm sóc vợ mình mà còn có quan hệ vợ chồng với người phụ nữ khác dẫn đến việc có con riêng.

Như vậy, bà hoàn toàn có thể yêu cầu thay đổi người giám hộ theo quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2015.

“1. Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:

a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật này;

b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;

c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;

d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.

2. Trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử, chỉ định người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật này. 3. Thủ tục thay đổi người giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”

Theo quy định tại Điều 23 Luật Hộ tịch năm 2014: “Trường hợp yêu cầu thay đổi người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và có người khác đủ điều kiện nhận làm giám hộ, thì các bên làm thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ trước đó và đăng ký giám hộ mới theo quy định tại Mục này”.

Như vậy, để làm thủ tục thay đổi người giám hộ thì trước tiên cần phải làm thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ trước đó và đăng ký giám hộ mới.

Thứ nhất, thủ tục chấm dứt giám hộ (Điều 22 Luật Hộ tịch năm 2014)

+ Bước 1: Người yêu cầu đăng ký chấm dứt giám hộ nộp tờ khai đăng ký chấm dứt giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ làm căn cứ chấm dứt giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho Ủy ban nhân dân cấp xã.

+ Bước 2: Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành thụ lý hồ sơ về việc chấm dứt giám hộ Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật, nếu thấy việc chấm dứt giám hộ đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc chấm dứt giám hộ vào Sổ hộ tịch, cùng người đi đăng ký chấm dứt giám hộ ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Thứ hai, thủ tục đăng ký giám hộ mới (Điều 20, 21 Luật Hộ tịch năm 2014)

+ Bước 1: Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ chứng minh điều kiện giám hộ đương nhiên hoặc văn bản cử người giám hộ cho Ủy ban nhân dân cấp xã.

 + Bước 2: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn tư vấn để bà được biết và tham khảo./.

Tác giả:  Trung tâm TGPLNN
Nguồn: 
Sign In
Chung nhan Tin Nhiem Mang