Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Giới thiệu về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

( Cập nhật lúc: 16/11/2020  )

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý (thông qua các hình thức tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng), góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý.

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước

1. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộcSở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng.

2. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể có Chi nhánh.

Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được thành lập tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý.

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.

Tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý

1. Tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

2. Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.

3. Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

1. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện trợ giúp pháp lý;

b) Đề nghị cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc trợ giúp pháp lý;

c) Bồi thường thiệt hại do lỗi của người thuộc tổ chức mình gây ra trong khi thực hiện trợ giúp pháp lý;

d) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo, truyền thông về trợ giúp pháp lý;

đ) Giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý;

e) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý.

2. Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có quyền và nghĩa vụ thực hiện các nhiệm vụ khác do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý ủy quyền hoặc yêu cầu.

3. Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Được nhận thù lao và chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định;

b) Quyền và nghĩa vụ khác theo hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý.

4. Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý theo nội dung đăng ký..

Tư vấn pháp luật

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, nhận được đơn của ông La Văn Nguyên với nội dung như sau:

Do vợ ông không chịu ký vào đơn ly hôn, nên ông làm đơn xin ly hôn đơn phương. Nhưng ông nghe mọi người trong thôn nói ông muốn nộp đơn ra Toà án thì phải có giấy xác nhận đã hoà giải ở cơ sở, nếu chưa hoà giải thì Tòa án sẽ yêu cầu về thôn hoà giải trước rồi sau đó mới được mang đơn lên Toà án nộp. Ông có về bảo vợ cùng ra tổ hòa giải của thôn thực hiện hòa giải nhưng vợ tôi không đồng ý. Ông đề nghị tư vấn: "Có bắt buộc có giấy tờ hòa giải ở thôn khi ly hôn hay không? Nếu vợ tôi không chịu đi hòa giải thì tôi có làm đơn ra tòa xin ly hôn được không? Khi làm đơn ly hôn đơn phương tôi cần chuẩn bị những giấy tờ gì?"

Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan đối chiếu với yêu cầu trợ giúp pháp lý của ông, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn có ý kiến tư vấn cho ông như sau:

Theo quy định tại Điều 52 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc hoà giải ở cơ sở như sau:

“Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở”.

Như vậy theo Điều 52, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc khuyến khích hoà giải ở cở sở. Nhà nước chỉ khuyến khích hoà giải ở cơ sở (ở thôn, tổ dân phố) khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Pháp luật không quy định việc khi ly hôn sẽ phải có xác nhận đã hoà giải ở cơ sở thì Toà án mới thụ lý.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự “5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.”

Đối với trường hợp ly hôn đơn phương thì ông phải chuẩn bị hồ sơ khởi kiện gồm các giấy tờ sau:

+ Đơn khởi kiện về việc ly hôn (có thể bao gồm cả việc nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn – nếu có).

+ Giấy đăng ký kết hôn (bản chính).

+ Chứng minh thư và sổ hộ khẩu của vợ và chồng (bản sao có chứng thực)

+ Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực) hoặc trích lục khai sinh;

+ Các giấy tờ liên quan đến tài sản như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký xe,...

Trên đây là ý kiến tư vấn của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn tư vấn để ông được biết và tham khảo./.

Tác giả: 
Nguồn:  Trung tâm TGPL
Sign In