Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Quy định các trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

( Cập nhật lúc: 02/04/2021  )

      Ngày 30 tháng 03 năm 2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2021/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Theo đó, tại khoản 1, 2 Điều 1 của Nghị định đã sửa đổi các trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Cụ thể:

     Thứ nhất, sửa đổi Điều 3 về trường hợp phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên  nước. Theo đó, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất (sau đây gọi chung là chủ giấy phép) thuộc một trong các trường hợp sau đây phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước:

      1. Đối với khai thác nước mặt, gồm: (a) Khai thác nước mặt để phát điện; (b) Khai thác nước mặt để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp, bao gồm cả nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi, gia nhiệt.

      2. Đối với khai thác nước dưới đất: (a) Khai thác nước dưới đất để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp, bao gồm cả nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi, gia nhiệt; (b) Khai thác nước dưới đất (trừ nước lợ, nước mặn) để nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc, tưới cà phê, cao su, điều, chè, hồ tiêu và cây công nghiệp dài ngày khác với quy mô từ 20 m3/ngày đêm trở lên.

      Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Điều 4 về căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước:

      1. Mục đích sử dụng nước, gồm: (a) Khai thác nước dùng cho sản xuất thủy điện; (b) Khai thác nước dùng cho kinh doanh, dịch vụ; (c) Khai thác nước dùng cho sản xuất phi nông nghiệp, bao gồm cả nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi, gia nhiệt; (d) Khai thác nước dưới đất dùng cho tưới cà phê, cao su, điều, chè, hồ tiêu và cây công nghiệp dài ngày khác; (đ) Khai thác nước dưới đất dùng cho nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc.

      2. Chất lượng nguồn nước được xác định theo phân vùng chất lượng nước hoặc phân vùng chức năng nguồn nước trong các quy hoạch tài nguyên nước hoặc các quy hoạch về tài nguyên nước theo pháp luật về quy hoạch hoặc quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt; trường hợp chưa có quy hoạch hoặc trong quy hoạch chưa phân vùng thì căn cứ vào chất lượng thực tế của nguồn nước khai thác.

       3. Loại nguồn nước khai thác gồm: Nước mặt, nước dưới đất.

      4. Điều kiện khai thác: (a) Đối với nước mặt xác định theo khu vực nguồn nước mặt được khai thác; (b) Đối với nước dưới đất xác định theo loại hình công trình khai thác (giếng khoan, giếng đào, hố đào, hành lang, mạch lộ, hang động), trường hợp công trình là giếng khoan thì xác định theo chiều sâu khai thác.

      5. Quy mô khai thác: (a) Đối với khai thác nước cho thủy điện được xác định theo hồ sơ thiết kế; (b) Đối với trường hợp khai thác, sử dụng nước cho mục đích khác với quy định tại điểm a khoản này được xác định theo giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước và tỷ lệ cấp nước cho các mục đích sử dụng.

      6. Thời gian khai thác được xác định trên cơ sở thời gian bắt đầu vận hành công trình, thời điểm giấy phép bắt đầu có hiệu lực và thời hạn quy định trong giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước.

      Nghị định có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2021. Bãi bỏ Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Tác giả:  Nguyễn Hòa
Nguồn: 
Sign In